Hiện trạng và xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ ở việt nam

  Thứ Wed, 29/05/2019  (0)Bình luận

Bài viết khái quát bức tranh nông nghiệp hữu cơ (NNHC) trên thế giới và ở Việt Nam, trên cơ sở đó phân tích cơ hội, thách thức và chỉ ra những vấn đề cần quan tâm trong áp dụng theo hướng hữu cơ ở Việt Nam. NNHC là một phương thức canh tác, một hệ thống quản lý nông nghiệp toàn diện một cách lý tưởng nên yêu cầu cực kỳ nghiêm khắc, chưa nước nào trên thế giới đạt được. Nông nghiệp Việt Nam cũng cần những bước đi thận trọng đạt hiệu quả chắc chắn. 

Mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ (Ảnh minh họa)

Mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ (Ảnh minh họa)

1.1 Khái quát về Nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ xuất phát từ nhu cầu phát triển bền vững 
Nông nghiệp càng mở rộng thâm canh, các mặt trái càng bộc lộ, rõ nhất là tác động môi trường (khí nhà kính như CO2, NO2, CH4; thoái hóa đất; ô nhiễm nước do thuốc và phân khoáng; giảm đa dạng sinh thái và sinh học: tính kháng thuốc tăng, sản xuất ngày càng lệ thuộc vào hóa chất). Nông nghiệp đi tìm đường để phát triển bền vững. Canh tác nông nghiệp hữu cơ ngày nay khác xa với nông nghiệp hữu cơ truyền thống.

Phân bón hóa học ra đời trong thế kỷ XIX và tiếp sau là thuốc trừ sâu; những năm 1940 được gọi là "thời đại thuốc trừ sâu" (10). Đầu những năm 1900, các nhà sinh học đất bắt đầu tìm cách để khắc phục những tác hại kinh khủng của chúng; song khi nạn đói hoành hành thì canh tác hữu cơ chưa có cơ hội phát triển. Nông nghiệp sinh thái (hay còn gọi nông nghiệp năng lượng sinh học) là hệ thống hiện đại đầu tiên của nông nghiệp để tập trung vào phương pháp hữu cơ (20) đến nay đã phát triển thành hệ thống “Nông nghiệp hữu cơ”.

Để bảo đảm bền vững, NNHC phải thích ứng được với các yếu tố khí hậu, địa lý, canh tác và văn hóa, xã hội của địa phương. Các nguyên tắc mà hệ thống NNHC đề xuất chính là các chỉ dẫn để cải biên các giải pháp sao cho thích hợp nhất cho từng địa phương. NNHC có vai trò trung tâm trong việc bảo đảm cho nền nông nghiệp bền vững.

1.2 Khái niệm về Nông nghiệp hữu cơ

"Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất để duy trì sức khỏe của đất, hệ sinh thái và con người. Nó dựa trên quá trình sinh thái, đa dạng sinh học và chu trình thích nghi với điều kiện địa phương, chứ không phải là việc sử dụng các yếu tố đầu vào có tác dụng phụ. Nông nghiệp hữu cơ kết hợp truyền thống, đổi mới và khoa học có lợi cho môi trường chung và thúc đẩy các mối quan hệ công bằng, một cuộc sống chất lượng cho tất cả tham gia... "(5). “Nông nghiệp hữu cơ hay còn gọi canh tác hữu cơ là một hệ thống nông nghiệp (1). Như vậy, thuật ngữ này là để chỉ một giải pháp kỹ thuật, chứ không phải để chỉ toàn bộ một nền nông nghiệp của một lãnh thổ hay một quốc gia.

Hai mươi năm trước FAO và WHO đề cập đến Nông nghiệp hữu cơ như sau: “Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống quản lý sản xuất tổng hợp khuyến khích và nâng cao sức khỏe của hệ sinh thái nông nghiệp bao gồm đa dạng sinh học, các chu trình sống, và hoạt tính sinh học của đất. Nó nhấn mạnh việc áp dụng các biện pháp quản lý thiên về các đầu vào từ ngòai trang trại, chú trọng rằng các hệ thống đưa vào phải thích ứng với những điều kiện của địa phương. Việc này được thực hiện, ở mọi chỗ có thể, các phương pháp nông học, sinh học và cơ học thay vì dùng các vật liệu tổng hợp để hoàn tất bất cứ chức năng cụ thể nào của hệ thống” (FAO/WHO Codex Alimentarius Commission) (8).

Mười năm sau, năm 2008 tại Vignola, Italy, đại hội đồng Liên đoàn Quốc tế các phong trào canh tác nông nghiệp hữu cơ (IFOAM) đã thông qua định nghĩa như sau về Nông nghiệp hữu cơ (6). Trong 27 bản dịch được chấp nhận, không có tiếng Việt, chúng tôi dịch từ bản tiếng Anh như sau:

“Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất duy trì sức khỏe của đất, của các hệ sinh thái và con người. Nông nghiệp hữu cơ dựa trên các quá trình sinh thái, sự đa dạng sinh học và các chu trình thích ứng với các điều kiện địa phương, hơn là sử dụng những đầu vào mang theo hiệu ứng nghịch. Nông nghiệp hữu cơ kết hợp truyền thống, sáng tạo và khoa học làm lợi cho một môi trường cùng chia sẻ, thúc đẩy các mối quan hệ lành mạnh và chất lượng cuộc sống tốt của tất cả các thực thể tham gia”(6).

Có rất nhiều giảng giải và định nghĩa Nông nghiệp hữu cơ, nhưng tất cả qui tụ ở một khẳng định rằng đó là một hệ thống dựa trên quản lý sinh thái hơn là dựa trên những đầu vào nông nghiệp từ bên ngòai. Hệ thống này xem xét tác động môi trường và xã hội, thông qua việc loại trừ việc sử dụng các hóa chất. Thay vào đó là các giải pháp quản lý đặc thù cho từng nơi, nhằm duy trì và nâng cao độ phì nhiêu đất lâu dài và ngăn ngừa sâu bệnh hại.
Nói ngắn gọn, Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất từ canh tác, chế biến, phân phối đến tiêu dùng nhằm duy trì sức khỏe của đất, hệ sinh thái và con người. Đó là một chuỗi giá trị hoàn chỉnh.

1.3. Nguyên tắc của NNHC

NNHC có 4 nguyên tắc cơ bản: 
1) Sức khỏe (Tăng cường sức khỏe của đất, nước, cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật, con người).
2) Sinh thái (mô phỏng tự nhiên, cân bằng động và bền vững nhờ phù hợp với tuần hoàn và đa dạng di truyền). Phù hợp với điều kiện địa phương; bao gồm cả văn hóa, qui mô kinh tế. 
3) Công bằng (bình đẳng, tôn trọng và công lý cho mọi sinh vật; kể cả sinh vật nhỏ nhất. Chúng phải được cung cấp các điều kiện sống phù hợp với sinh lý và hành vi tự nhiên). 
4) Quan tâm (chú trọng đến sinh kế và phúc lợi cho thế hệ hiện tại và tương lai). Nâng cao an sinh, an toàn, kiến thức, sử dụng hiệu quả trí tuệ và kinh nghiệm tích lũy.

Các nhóm giải pháp thực hiện canh tác hữu cơ:

i) Loại trừ hoàn toàn hoặc phần lớn việc sử dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học, chất điều tiết sinh trưởng trong nuôi trồng, chất phụ gia trong thức ăn chăn nuôi và chế biến nông sản; không sử dụng sinh vật biến đổi gen (GMO) và tránh chiếu xạ.
ii) Tối ưu hóa luân canh, quay vòng mùa vụ và tận dụng các tàn dư hữu cơ sau thu hoạch. 
iii) Áp dụng biện pháp cơ học để duy trì năng suất đất và cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng cũng như trừ cỏ, và các loại sâu bệnh hại.
iv) Tối ưu hóa sức khỏe và năng suất của đất, cây trồng, vật nuôi và con người.

1.4 Những mặt được và chưa được của canh tác hữu cơ

Những người chủ trương CTHC cố gắng hoàn thiện nó như một giải pháp toàn cầu toàn diện nhất, nhưng cũng nhận ra nhiều thách thức và lường trước những khó khăn và phản ứng chưa lường hết; đặc biệt là tác động xã hội (giầu/nghèo) phải xem xét thận trọng. Thế giới không ngừng bàn thảo về NNHC, tổng quan gần đây nhất là của GS Navin Ramankutty và Verena Seufert; họ nhận định canh tác hữu cơ được ở một số mặt nhưng thua ở một số mặt khác nên không thể khẳng định ‘trắng’ hay ‘đen’ được. Cụ thể như sau.

+ Về tác động môi trường: Trang trại canh tác hữu cơ tỏ ra có môi trường tốt hơn so với canh tác truyền thống tức là đa dạng sinh học cao hơn; chất lượng đất tốt hơn chắc chắn; còn chất lượng nước cao hơn, và phát thải GHG nói chung thấp hơn, song cũng có nhiều trang trại hữu cơ còn kém hơn nông trại truyến thống. Đáng nói cái chưa được là năng suất bình quân giảm 19 – 25% sẽ dẫn đến khai phá đất mới, phá hại môi trường.

+ Về phía người tiêu dùng, sẽ ít bị độc hại do thuốc trừ sâu và ăn thức ăn giầu vitamin hơn. Nhưng sự khác nhau về vitamin không đáng kể, có thể thay thế bằng thức ăn khác, cứ gì phải ăn sản phẩm NNHC. Giá đắt luôn đánh trực tiếp vào túi người ăn, nên người nghèo khó mà hưởng được lợi ích này.

+ Về phía người sản xuất, các phương pháp hữu cơ đem lại một số lợi ích: lợi nhuận tăng đến hơn 35% ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Ấn Độ. CTHC tốn công hơn nhiều so với phương pháp truyền thống, song đem lại cơ hội việc làm. Lợi ích lớn nhất là giảm tiếp xúc với hóa chất độc hại. Điều chưa rõ là các nông trại hữu cơ có chắc chắn trả tiền công cao hơn cho nông dân không.

Chúng ta không thể khẳng định được liệu nông nghiệp hữu cơ có thể vừa nuôi sống thế giới, giảm tác hại môi trường lại đồng thời đem lại việc làm tử tế và thức ăn dinh dưỡng với giá hợp lý hay không. Liệu các trang trại hữu cơ cuối cùng có năng suất bằng trang trại truyền thống không và liệu phân hữu cơ có đủ để sản xuất nông sản cho toàn thế giới không ? Còn nhiều câu hỏi chưa có giải đáp.

Các câu hỏi khác thuộc về tương lai: Liệu giới giầu có có chịu thay đổi khẩu phần, giảm lãng phí thức ăn để đỡ phải tăng sản xuất lương thực khi dân số tăng ?. Liệu dân chúng có bằng lòng ở lại trong nông nghiệp để làm việc cho các nông trại hữu cơ vốn dĩ sử dụng rất nhiều nhân công. Chắc chắn chúng ta tiếp tục ăn sản phẩm hữu cơ và đầu tư vào canh tác hữu cơ ở nhiều vùng có triển vọng. Song, 50 năm qua hiện chỉ có hơn 1% đất nông nghiệp thế giới canh tác hữu cơ. Nếu theo tốc độ như thập kỷ qua thì 100 năm nữa Nông nghiệp thế giới mới có thể ứng dụng CTHC trên toàn bộ diện tích đất nông nghiệp.

Tuy thế, ảnh hưởng của nó vượt xa tỷ lệ diện tích. NNHC đã cho một ví dụ về những con đường mới, là phép thử cho hàng loạt biện pháp quản lý, từ luân canh đa dạng, phân rác ủ, cây phủ đất, đến canh tác bảo vệ đất. Nông nghiệp truyền thống đã xem nhẹ các biện pháp bền vững này quá lâu. Vì thế chúng ta phải ủng hộ các trang trại hữu cơ nào thân thiện môi trường, có hiệu quả kinh tế và sản xuất thức ăn có ý nghĩa toàn xã hội. Các nhà khoa học phải nghiên cứu bổ sung hệ thống này để giúp vượt qua thử thách. Đồng thời phải học những nông trại thành công để cải thiện 99% diện tích đất nông nghiệp còn lại.

Còn tiếp…

Nguồn: Sưu tầm

Viết bình luận của bạn: