Hiện trạng và xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ ở việt nam ( Phần II )

  Thứ Sat, 15/06/2019  (0)Bình luận

HIỆN TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN 
NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ Ở VIỆT NAM ( PHẦN II )

3. Hiện trạng Nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam

3.1 Canh tác hữu cơ truyền thống

        Canh tác hữu cơ khác về cơ bản canh tác thông thường ở chỗ sử dụng các loại vật liệu hữu cơ (chứa carbon) để giữ ẩm, làm tốt đất, làm phân bón và trừ sâu bệnh. Nông dân nước ta đã canh tác hữu cơ theo cách truyền thống từ nhiều năm trước (như làm dầm, làm ải, cày vặn rạ, luân canh, xen canh, phân xanh, bèo dâu, bón khô dầu, bã đậu, xác mắm,…). Cuối thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn viết trong Vân đài loại ngữ: “Tháng 5 - 6 gieo đậu xanh, đậu nhỏ và vừng; tháng 7 - 8 cày úp bội thu 1003 lít, tốt ngang với bón xác tằm hay phân hoai”. Bèo hoa dâu là một cống hiến của Nông học Việt Nam cho Nông học nhiệt đới ẩm thế giới. Kinh nghiệm quí báu của nông dân Bích Du (Thái Bình) về sử dụng bèo dâu trong nghề trồng lúa được kỹ sư Nguyễn Công Tiễu khảo cứu và lần đầu tiên được ông giới thiệu bí mật thể cộng sinh cố định N “Azolla-Anabaena” tại Hội nghị Khoa học Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương tại York Jakarta (Indonesia, 1927).

Gần đây giải pháp hữu cơ cũng được đề cập đến trong nhiều sách báo nông nghiệp Việt Nam đương đại. Cuốn “Đất đồi núi Việt Nam – Thoái hóa và Phục hồi” (Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, 1999) giành một chương về “Vai trò đặc biệt của biện pháp sinh học” trong đó nêu rõ lý luận và thực tiễn về tuần hoàn chất hữu cơ. Các giải pháp dùng cây cải tạo đất, thay thế phân khoáng được giới thiệu trong cuốn “Cây phủ đất ở Việt Nam” nhấn mạnh đó không phải là giải pháp nhất thời mà là một phần của chiến lược nông nghiệp sinh thái. 
Sản xuất nhanh phân xanh, phân rác ủ, danh mục các cây phân xanh trồng xen, làm băng chắn, làm cây bóng mát, tận dụng phụ phẩm thu hoạch để tủ gốc, phủ đất, bón phân nửa hoai v.v. đã trở thành qui trình sản xuất. Đối với lúa nương, sắn, cà phê, sử dụng nguồn hữu cơ có thể thay thế được 1/3 phân khoáng. Tuần hoàn chất hữu cơ trong đất Việt Nam được giới thiệu trong Mạng lưới ASIALAND.

Canh tác truyền thống khá bền vững, ít gây ô nhiễm, nhưng năng suất thấp; để tránh nạn đói và đạt ANLT chúng ta đã viện đến hóa chất, nhưng đã “hóa học hóa” nông nghiệp quá đà. Lúc ở cao trào đó, vai trò hữu cơ cũng không thể xem nhẹ, “để đạt năng suất cao không loại phân nào, hữu cơ hay hóa học, có thể thay thế hoàn toàn cho nhau”. Tri thức bản địa và kinh nghiệm lâu đời sử dụng chất hữu cơ là một lợi thế.

Khi ANLT đã đạt được và xuất khẩu nông sản đã xuất khẩu đi 180 nước thì canh tác hữu cơ truyền thống phải thay đổi với sự coi trọng đồng thời sản lượng, chất lượng nông sản và môi trường. Canh tác truyền thống còn những nhược điểm phải khắc phục như chưa chú trọng vấn đề ô nhiễm (sử dụng phân người, phân động vật chưa hoai); không kiểm soát được mầm bệnh; chưa bảo vệ được sức khỏe của hệ thống.

3.2 Canh tác hữu cơ ở Việt Nam theo khái niệm đương đại

3.2.1 Bước đầu tiếp cận canh tác hữu cơ đương đại 

       Canh tác hữu cơ theo hệ thống này mới bắt đầu từ những năm 1990 ở khu vực tư với sự hỗ trợ của các NGO. ADDA hỗ trợ dự án rau an toàn tại Hà Nội (1998-2004); sản xuất và tiêu thụ chè và rau hữu cơ của Ecolink và Hanoi Organics (HO). Dự án “Phát triển khung sản xuất và thị trường NNHC Việt Nam” do ADDA tài trợ (2005-2012) tại 7 tỉnh phía Bắc với các nông sản rau, lúa, cam, bưởi, vải, chè… Các mô hình tiêu biểu như sản xuất rau ở Lương Sơn (Hòa Bình), Sóc Sơn (Hà Nội); chè Shan Tuyết ở Bắc Hà (Lào Cai); cam ở Hàm Yên (Tuyên Quang).

Chúng ta đang ở bước đầu tiếp cận và làm theo hướng NNHC, gọi kinh tế nông nghiệp, nông thôn của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia là ‘nền Nông nghiệp hữu cơ’ là lý tưởng hóa nó. Gần thế kỷ qua ít có nước nào đạt hay tuyên bố đạt trong một tương lai gần. Đơn giản là vì những yêu cầu nghiêm khắc khó vượt qua. Lý tưởng rất siêu việt và thực tế rất nghiệt ngã. Bhutan năm 2013 đã thông báo kế hoạch trở thành quốc gia hữu cơ 100%; năm 2015 Đan Mạch tuyên bố đầu tư hơn 53 triệu euro để thành quốc gia hữu cơ đầu tiên trên thế giới, song không rõ bao giờ đạt được mục tiêu. Đáng lưu ý là 2 nước nhày nhỏ, Bhutan vốn dĩ là nước canh tác tự nhiên; còn Đan Mạch là nước giầu, tỷ lệ nông nghiệp rất thấp.

3.2.2.Quy mô canh tác theo NNHC

       Diện tích NNHC do Hiệp hội NNHC Việt Nam cung cấp, đưa vào thống kê IFOAM 2018 là 11.227.069 ha; trong đó đất nông nghiệp 4.68.181 ha, thủy canh 897.837 ha, rừng 123 ha, hái lượm tự nhiên 6.259.421 ha, diện tích ngòai nông nghiệp 1.507 ha. Diện tích đất nông nghiệp canh tác hữu cơ Việt Nam tăng mạnh trong 5 năm qua, chiếm khoảng 0,5% diện tích đất nông nghiệp. Theo Cục Trồng trọt năm 2017 có 30/63 tỉnh, thành phố sản xuất nông nghiệp hữu cơ và theo hướng hữu cơ (đáng lưu ý chưa có số liệu tách bạch diện tích, sản phẩm NNHC đã được chứng nhận là bao nhiêu). Các cây được canh tác hữu cơ hàng đầu là dừa (3.052,3 ha), ca cao (2.300 ha) và chè (538,9 ha). Sản phẩm chủ lực lại rất ít: lúa (489,8 ha) và rau (151 ha). Một số mô hình nuôi cá basa hữu cơ tại An Giang, nuôi tôm tại Cà Mau đã có chứng nhận hữu cơ khoảng 10.000 ha xuất khẩu sang EU. Công ty Viễn Phú sản xuất lúa - cá tại Cà Mau trên 250 ha; Công ty Organic Đà Lạt sản xuất rau hữu cơ… Ngoài ra, có 33 cơ sở sản xuất trồng trọt theo hướng hữu cơ.

3.2.3.Về chứng nhận chất lượng

       Năm 2006, Bộ NN và PTNT đã ban hành tiêu chuẩn ngành 10TCN 602-2006 Hữu cơ – Tiêu chuẩn về sản xuất nông nghiệp hữu cơ và chế biến. Tuy nhiên, 13 năm qua chưa có các hướng dẫn chi tiết; do đó, người sản xuất không thể dựa vào đó để sản xuất hữu cơ, các cơ quan chứng nhận cũng không thể dựa vào đó để hướng dẫn, chứng nhận. Năm 2015, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 1104/2015 hướng dẫn sản xuất, chế biến, ghi nhãn và tiếp thị thực phẩm theo phương pháp hữu cơ nhưng không đi vào thực tế.

Mới đây, Bộ tiêu chuẩn Tiêu chuẩn Việt Nam 11041 về nông nghiệp hữu cơ được Bộ KHCN ban hành 29/12/2017 gồm 4 TCVN: i) Yêu cầu chung đối với sản xuất, chế biến, ghi nhãn sản phẩm nông nghiệp hữu cơ; ii) Trồng trọt hữu cơ; iii) Chăn nuôi hữu cơ; và iv) Yêu cầu đối với tổ chức đánh giá và chứng nhận hệ thống sản xuất và chế biến sản phẩm hữu cơ (dự thảo). Qui định về sản xuất, chế biến và ghi nhãn sản phẩm NNHC; tổ chức đánh giá, chứng nhận hệ thống sản xuất và chế biến sản phẩm hữu cơ. Bộ TCVN này có tham khảo các tiêu chuẩn quốc tế về nông nghiệp hữu cơ (CODEX, IFOAM), và tiêu chuẩn khu vực (EU, ASEAN), của các nước Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan, Philippines, Trung Quốc…, đảm bảo hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài tiên tiến.

Hai hệ thống xác nhận là Hệ thống 3 bên và Hệ thống PGS mới được đưa vào chính thức trong nước. Các tiêu chuẩn Việt Nam chưa được các nước và quốc tế công nhận nên ít có tác dụng trong thương mại quốc tế. 

      Các HTX/TSX, hộ sản xuất áp dụng PGS quốc tế của IFOAM, các DN XK áp dụng tiêu chuẩn nước ngoài (EU Organic farming, USDA, JAS, TÁ, v.v. Đến nay Việt Nam chưa có tổ chức chứng nhận của mình, phải thuê nước ngoài (tổ chức chứng nhận ATC của Thái Lan; Tiêu chuẩn EU, USDA; Control Union của Hà Lan, Control Union, Ecocert, v.v.).

3.2.4. Về chính sách hỗ trợ 

       Từ đầu 2017, các cơ quan Chính phủ đã bắt đầu chú ý đến NNHC, xây dựng một số chính sách, như pháp lệnh nhà nước về NNHC, Kế hoạch hành động NNHC 2018-2025, rà soát sửa đổi các tiêu chuẩn cho phù hợp với điều kiện điạ phương và quốc tế. Trong thời gian dài, việc hỗ trợ cho NNHC mới chỉ dừng ở đề xuất mà chưa có chính sách, cơ chế cụ thể nào được ban hành. Các doanh nghiệp đi đầu về sản xuất sản phẩm hữu cơ hiện nay chưa nhận được bất kỳ sự hỗ trợ nào từ Nhà nước và chính quyền địa phương.

       Mới đây, Nghị định 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ có hiệu lực từ 15/10/2018 quy định về sản xuất, chứng nhận, ghi nhãn, logo, truy xuất nguồn gốc, kinh doanh, kiểm tra nhà nước sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

3.2.5. Về thị trường

       Thị trường nội địa cho sản phẩm NNHC hiện chưa phát triển chủ yếu do chưa xác lập được cơ chế giám sát và hệ thống phân phối đáng tin. Các sản phẩm rau hữu cơ và dược liệu là để tiêu thụ nội địa, còn các sản phẩm hữu cơ khác như chè, tôm, gạo, mật ong… là để xuất khẩu.

3.2.6. Về nghiên cứu và đào tạo

         Canh tác hữu cơ yêu cầu rất cao phải phù hợp với điều kiện địa phương; bao gồm cả văn hóa, qui mô kinh tế. Song chúng ta mới bắt đầu nên chưa kịp nghiên cứu và đào tạo. Các chương trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc chọn tạo giống kỹ thuật canh tác phục vụ thâm canh.

Còn tiếp…

Nguồn: Sưu tầm

Viết bình luận của bạn: